Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng
|
Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng |
|
HAFIC cập nhật ngày 4/8/2009 |
Vay mua nhà tại HSBC, miễn lãi suất 3 tháng; vay mua ô tô, vay tiêu dùng
miễn lãi suất tháng đầu tiên...ngân hàng HSBC Việt Nam đang triển khai
hàng loạt các chương trình ưu đãi lớn.
Cụ thể,
theo chương trình khuyến mại của ngân hàng HSBC Việt Nam, khách hàng vay
mua nhà sẽ được miễn lãi suất vay trong 3 tháng đầu tiên, khách hàng
vay tiêu dùng hoặc vay mua xe ôtô sẽ được miễn lãi suất vay tháng đầu
tiên.
Chương trình khuyến mại được áp dụng từ 3/8 đến hết 30/9 cho các khách
hàng cá nhân tại tất cả 10 điểm giao dịch trên toàn quốc của HSBC.
Ngoài ra, trong chương trình "HSBC ưu đãi lớn”, đối với thẻ tín dụng
HSBC, chủ thẻ sẽ được miễn hoàn toàn phí thẻ thường niên cho năm đầu
tiên.
Khách gửi tiết kiệm bằng VND sẽ được tặng thêm lãi suất 0,5%/năm trên
mức lãi suất chuẩn (mức gửi thấp nhất 30 triệu đồng). Tiền gửi tiết kiệm
bằng USD được tặng thêm lãi suất 0,2%/năm.
Không chỉ vậy, khách hàng còn được tặng thêm Bảo hiểm an toàn cá nhân
nhóm A dành cho các khoản tiền gửi từ 850 triệu VND hoặc 50.000 USD với
kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Trong thời gian khuyến mãi lớn này, HSBC cũng sẽ tặng khách hàng nhiều sản phẩm bảo hiểm và nhiều món quà độc đáo khác.
TT
Chi tiết
Cần kiểm soát chặt chất lượng tín dụng
|
Cần kiểm soát chặt chất lượng tín dụng |
|
HAFIC cập nhật ngày 2/8/2009 |
Với chủ trương kiểm soát chặt hoạt động tín dụng của NHNN, các ngân hàng thương mại cần "siết" chặt hơn chất lượng tín dụng.
Đó là ý kiến của các chuyên gia tài chính
- ngân hàng trong buổi tọa đàm về xu hướng lãi suất, tăng trưởng tín
dụng diễn ra ngày 30/7 tại Trường đại học Kinh tế TP. HCM. Các chuyên
gia cho rằng, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng
(CPI), nhưng tác động không lớn so với yếu tố giá cả hàng hóa, đặc biệt
là sự biến động của giá xăng dầu.
Việc thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát là hợp lý, song không
nên kiểm soát mục tiêu ở một tỷ lệ cụ thể, mà nên kiểm soát chặt chất
lượng tín dụng.
Đại diện một ngân hàng phát biểu, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam
trong thời gian tới phải đảm bảo được hai mục tiêu: thứ nhất là làm sao
tăng trưởng tín dụng phải đảm bảo được tăng trưởng kinh tế; thứ hai là
phải trong tầm kiểm soát được lạm phát.
Trước những ý kiến trái chiều về việc duy trì hay ngưng chủ trương
kích cầu của Chính phủ, vị đại diện này cho rằng, có thể thu hẹp biên độ
lãi suất được hỗ trợ (từ 4%/năm xuống 3%/năm) hoặc thu hẹp đối tượng
được hưởng hỗ trợ, nhất là với những doanh nghiệp xuất khẩu đang có vốn
ngoại tệ duy trì trên tài khoản hoặc đem USD thế chấp để vay tiền đồng
hưởng hỗ trợ lãi suất. Điều này cũng có nghĩa, chất lượng tín dụng sẽ
được kiểm soát chặt chẽ.
Ông Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Trường đại học kinh tế TP. HCM
cho biết, đã có nhiều ý kiến được đưa ra là Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
nên ngưng hỗ trợ lãi suất đối với một số đối tượng doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh và tư vấn, trong
đó có cả hàng tiêu dùng. Quan điểm của ông Ngân là đồng tình với ý kiến
nên ngưng cấp vốn hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp đang có
nguồn ngoại tệ được duy trì trên tài khoản.
Song cũng có ý kiến cho rằng, nếu ngưng cấp vốn hỗ trợ 4%/năm cho các
doanh nghiệp này thì khó tránh được tình trạng kiện tụng xảy ra, vì
chưa có quy định nào hạn chế đối tượng có ngoại tệ duy trì trên tài
khoản không được vay vốn hỗ trợ lãi suất.
Thực tế, trong thời gian qua, không ít nhà nhập khẩu tận dụng cơ chế
hỗ trợ lãi suất để tiếp cận nguồn vốn giá rẻ, trong khi nguồn ngoại tệ
thu về chưa vội bán ra. Bởi tâm lý của các doanh nghiệp vẫn kỳ vọng tỷ
giá hối đoái sẽ tăng.
Hiện các ngân hàng bắt đầu tỏ ra thận trọng hơn trong việc cho vay hỗ
trợ lãi suất. ACB cho biết, để hạn chế rủi ro, Ngân hàng luôn kiểm soát
chặt khoản vốn cho vay hỗ trợ lãi suất nói riêng và hoạt động tín dụng
nói chung, vì rủi ro trong cho vay là rủi ro cao nhất đối với hoạt động
ngân hàng.
Mặt khác, với mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm nay vừa
được điều chỉnh xuống 25 - 27% thì việc phát triển cho vay cũng cần có
sự điều chỉnh và thận trọng hơn trước.
Thực tế, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất có chiều
hướng giảm. Theo ông Hồ Xuân Nghiễm, Phó tổng giám đốc Sacombank, không
phải đến thời điểm hiện nay, mà ngay từ đầu triển khai cho vay hỗ trợ
lãi suất, các ngân hàng đã thận trọng. Với chủ trương kiểm soát chặt
hoạt động tín dụng của NHNN, các ngân hàng sẽ "siết" chặt hơn chất lượng
tín dụng.
Đối với tín dụng cá nhân (cầm cố chứng khoán, bất động sản, tiêu
dùng…), nhiều ý kiến cho rằng, dư nợ tăng trưởng trong thời gian qua chỉ
là sự khởi đầu sau một thời gian dài bị hạn chế.
Mặt khác, các ngân hàng cũng thận trọng trong việc lựa chọn khách
hàng, chẳng hạn như chứng minh mục đích sử dụng vốn, khả năng trả nợ…,
nên kiểm soát chất lượng tín dụng sẽ tốt hơn là hạn chế cho vay.
Theo Vân Linh
ĐTCK
Chi tiết
|
Kiểm soát tín dụng để ngăn lạm phát
|
Kiểm soát tín dụng để ngăn lạm phát |
|
HAFIC cập nhật ngày 29/7/2009 |
Chính sách tiền tệ của NHNN đang tập trung vào mục tiêu kiểm soát tín dụng chống lạm phát.
Mức tăng trưởng tín
dụng liên tục được điều chỉnh trong hai tháng qua, từ 21-22% lên
25%, lên 30% rồi lại xuống 25-27% cho thấy Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) bắt đầu chuyển ưu tiên của chính sách tiền tệ sang mục
tiêu ngăn chặn sự trở lại của lạm phát.
Kiểm soát tăng trưởng tín dụng
Giữa tháng 7-2009 trong một cuộc họp với
đại diện các ngân hàng, NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng
cổ phần báo cáo kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong những
tháng còn lại của năm trước ngày 20-7-2009, đồng thời chỉ đạo
mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh năm nay
không vượt quá 25%.
Trong sáu tháng đầu năm, hầu hết các
ngân hàng cổ phần đều đạt mức tăng trưởng tín dụng 30-50% so
với cuối năm ngoái, một số ngân hàng thậm chí tăng 70-100%. Theo
chỉ đạo mới nhất của Chính phủ, tăng trưởng tín dụng của
toàn ngành ngân hàng cao nhất sẽ chỉ dừng ở mức 27%.
Nếu các ngân hàng quốc doanh dừng ở mức
25%, thì các ngân hàng cổ phần cũng chỉ có thể tăng trưởng
tín dụng 30%. Như vậy, đa số các ngân hàng cổ phần không thể
tăng trưởng thêm tín dụng, ngược lại phải điều chỉnh mức tăng
nóng thời gian qua, đưa về mức 30%.
Nhiều ngân hàng cổ phần từ hơn một
tháng qua đã giảm bớt cho vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay chứng
khoán từ sáu tháng đã hạ xuống tối đa ba tháng và trung bình
chỉ còn 1- 1,5 tháng. Theo thống kê của NHNN, đến 30-6-2009 dư nợ
cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng
khoán của ngân hàng tăng 28,31% so với cuối năm 2008.
Mức tăng này lớn hơn rất nhiều mức tăng
trưởng tín dụng chung là 17%. Đấy là những khoản vay mà mục
đích sử dụng vốn được ghi rõ ràng là kinh doanh chứng khoán.
Tuy nhiên còn không ít những hợp đồng thế chấp giấy tờ có giá
khác vay tiêu dùng, mà có thể đổ vào chứng khoán hoặc bất
động sản mà các tổ chức tín dụng không thẩm định được.
Nhìn vào tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi
suất, đã thấy những dấu hỏi cần phải làm rõ. Các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh đã được vay 249.656 tỉ đồng trong tổng số
377.694 tỉ đồng kích cầu tính đến ngày 16-7-2009. Thế nhưng
theo Tổng cục Thống kê, trong nửa đầu năm số tiền đầu tư vào
các dự án mới của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ
khoảng 100.000 tỉ đồng.
Tất nhiên vốn đầu tư cho dự án mới sản
xuất kinh doanh không phải chỉ có từ nguồn kích cầu, mà còn
từ các nguồn khác. Vậy phần lớn tiền vay kích cầu có thể đã
được sử dụng ngắn hạn như mua nguyên vật liệu dự trữ, trả
lương công nhân, giảm giá bán để “giải phóng” hàng tồn kho...
hoặc đổ vào chứng khoán, bất động sản.
Trả lương công nhân không thể “tiêu hóa”
hết một lượng vốn lớn. Nguyên vật liệu nhập khẩu và tiêu thụ
hàng tồn kho những tháng vừa qua cũng không tăng đột biến. Vốn
kích cầu đã được khối ngoài quốc doanh sử dụng vào đâu?
Những giải pháp đầu tiên
Trong thông cáo báo chí về hoạt động
ngân hàng sáu tháng đầu năm, định hướng sáu tháng cuối năm,
NHNN khẳng định sẽ “thực hiện các biện pháp kiểm soát cho vay
đối với đầu tư kinh doanh chứng khoán và bất động sản”. Những
giải pháp đầu tiên đã được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng
tín dụng.
Từ 1-8-2009 lãi suất tiền gửi dự trữ
bắt buộc của các tổ chức tín dụng giảm từ 3,6% xuống còn
1,2%/năm. Đây là đợt giảm lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc
lần thứ hai. Lần đầu là cuối tháng 1-2009, từ 8,5% xuống
3,6%/năm. Cùng với động thái cắt giảm lãi suất này, giới ngân
hàng phỏng đoán việc điều chỉnh theo hướng tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc sẽ sớm diễn ra.
Hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc khá thấp,
đối với tiền gửi dưới 12 tháng là 3% và trên 12 tháng là 1%
tổng vốn huy động. Giải pháp thứ hai đang được chuẩn bị. Nguồn
tin của NHNN nói với TBKTSG rằng cơ quan quản lý ngành ngân hàng
đã dự thảo giảm tỷ lệ sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho
vay trung, dài hạn từ 40% xuống 30%. Nhiều khả năng quyết định
này sẽ được thực hiện trong tháng 8-2009.
Hiện nay phần lớn vốn huy động của ngân
hàng là ngắn hạn, chủ yếu 3-9 tháng, mà sử dụng tới 40% của
nguồn này để cho vay trung, dài hạn là vô cùng rủi ro. Một số
ngân hàng đã “lách luật” bằng cách tung ra các sản phẩm tiết
kiệm thả nổi ba tháng cho các kỳ hạn gửi 12 tháng. Thời hạn
thực gửi của khách hàng chỉ là ba tháng, nhưng trên sổ kỳ hạn
gửi được ghi là 12 tháng và khoản tiết kiệm như vậy được
tính là vốn huy động trung, dài hạn.
Với hai “chốt chặn” kiểm soát tăng
trưởng tín dụng và giữ nguyên lãi suất cơ bản 7%/năm, trong khi
giảm lãi suất dự trữ bắt buộc cộng với giảm tỷ lệ sử dụng
vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, các ngân hàng buộc phải
tính toán lại chi phí đầu vào - đầu ra của đồng vốn và cho
vay có chọn lọc với điều kiện chặt chẽ hơn.
Để đảm bảo an toàn mà vẫn duy trì được
lợi nhuận, những ngân hàng khôn ngoan sẽ giảm bớt hoạt động
tín dụng, tăng cường mảng dịch vụ. Nhưng tăng cường dịch vụ
(trong đó có kinh doanh vàng, ngoại hối) đòi hỏi phải có công
nghệ và trình độ.
Lợi nhuận của những ngân hàng “bám” quá
chặt vào tín dụng sẽ bị ảnh hưởng. Vietcombank và ACB đang đi
theo hướng này khi đẩy mạnh kinh doanh ngoại hối, trái phiếu
bằng ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng và thị trường
quốc tế. Chẳng hạn lợi nhuận từ dịch vụ của ACB trong sáu
tháng đầu năm lên tới 46%, từ kinh doanh trái phiếu và liên ngân
hàng 22%, từ tín dụng chỉ còn 32%.
Theo Hải Lý
TBKTSG
Chi tiết
Nên tăng lượng cung USD ra thị trường
|
Nên tăng lượng cung USD ra thị trường |
|
HAFIC cập nhật ngày 29/7/2009 |
Theo ông Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và
chính sách, để giải quyết việc khan hiếm đồng USD tận gốc thì phải có
lượng tăng cung ra thị trường.
Sau khi thực hiện một loạt chính sách như
nới rộng biên độ tỷ giá giữa VND với USD, điều chỉnh giảm lãi suất đồng
USD... một vài tuần qua, các doanh nghiệp (DN) lại phản ánh rằng không
mua được USD.
Trong khi đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã bán một lượng ngoại tệ
đồng USD cho một số ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy thị trường
ngoại hối lại tiếp tục căng thẳng.
Chỉ có ngân hàng khan hiếm USD
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, nhận định tình hình khan
hiếm USD trên thị trường ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DN, nhất là các DN nhập khẩu.
Đơn cử như Hiệp hội Thép Việt Nam vừa gửi đơn lên Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng kêu cứu về nguy cơ đình hoãn sản xuất do không mở được thư tín
dụng (L/C). Nguyên nhân là do thép phế liệu (nguyên liệu chủ yếu của các
nhà máy sản xuất phôi) bị ngân hàng từ chối ưu tiên đảm bảo ngoại tệ.
Cũng theo ông Doanh, việc Ngân hàng nhà nước có bán đồng USD cho một
số ngân hàng thương mại lớn cho thấy các ngân hàng thương mại cũng đang
khan hiếm ngoại tệ này chứ không phải chỉ có DN thiếu.
Điều đó chỉ ra rằng có một lượng ngoại tệ rất lớn đang được găm giữ.
Đồng USD không được bán ra mà găm giữ lại cũng là điều rất dễ hiểu bởi
tỷ giá đồng USD đang chịu áp lực rất lớn của nhập siêu do cán cân thanh
toán tăng.
“Tôi cho rằng hiện nay thị trường không khan hiếm đồng USD. Bởi lẽ
hiện DN không mua được ngoại tệ với tỷ giá do nhà nước quy định. Còn tại
các chợ đen, DN chắc chắn mua được ngoại tệ này với tỷ giá trên 18.000
đồng/USD. Do vậy, tôi kiến nghị: Ngân hàng nhà nước cần xem xét nới rộng
biên độ tỷ giá trên mức ±5% để giá đồng USD ở chợ đen xích lại gần với
tỷ giá ở liên ngân hàng. Khi đó sẽ ít ai tính đến việc cất giữ USD và
thị trường sẽ bình ổn trở lại” - tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói.
Nên tăng lượng cung ra thị trường
Chiều 28-7, ông Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh
tế và chính sách (ĐH Kinh tế thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội), cho biết nguyên
tắc của thị trường là cung phải đáp ứng cầu thì mới đảm bảo được bình ổn
thị trường, không xảy ra tình trạng khan hiếm mặc dù cung và cầu phụ
thuộc rất nhiều vào kỳ vọng của người cung và người cầu USD.
Theo ông Thành, ngân hàng và DN găm giữ USD là điều không có gì đáng
trách cả vì họ phải lo cho kế hoạch của mình. Từ nay đến cuối năm, nhu
cầu nhập khẩu của DN như thế nào thì chỉ DN mới biết được thôi.
Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, nếu có việc DN găm giữ USD cũng là
điều dễ hiểu. Chừng nào DN còn nghĩ là USD vẫn còn khan hiếm, giá còn
tăng thì họ còn giữ USD như một tài sản.
Ông Thành cũng nhận định để giải quyết việc khan hiếm đồng USD tận
gốc thì phải có lượng tăng cung ra thị trường. Tuy nhiên, lượng USD bơm
ra phải được tính toán là lượng đang thiếu, như ước tính của nhiều
chuyên gia kinh tế là khoảng 2,5 tỷ USD đến 3,5 tỷ USD.
“Để đáp ứng việc thiếu hụt USD trên thị trường, có thể Chính phủ nên
tăng vay nợ ở nước ngoài. Tuy nhiên, với góc độ nhà khoa học, tôi cho
rằng rất khó cưỡng được việc đi vay thêm USD ở nước ngoài để cải thiện
tình hình cung USD trên thị trường hiện nay cũng như lâu dài. Lúc đó,
việc giữ USD có thể sẽ là rủi ro bởi lượng cung đang được găm giữ sẽ đổ
ra thị trường ồ ạt và giá sẽ hạ.
Mặt khác, Chính phủ cũng có thể cung ứng USD ra từ nguồn dự trữ ngoại
hối. Về bản chất, chính sách này hoàn toàn giống nhau, đều làm tăng
cung trên thị trường” - ông Thành nhận định.
Tuy nhiên, ông Thành cũng cho biết kết hợp với việc bơm USD ra thị
trường, ngân hàng thương mại cần thực hiện đồng bộ các chính sách khác
như tuyên truyền chính sách điều hành thị trường ngoại hối, công khai
nguồn cung tại thị trường.
Ví dụ: Việc Ngân hàng nhà nước công bố từ nay đến cuối năm sẽ có
khoảng hai tỷ USD được cung ứng ra thị trường. Tín hiệu này sẽ được các
đối tượng trên thị trường là các DN, ngân hàng thương mại tính toán đến
việc giá USD sẽ giảm và hiện tượng găm giữ sẽ giảm mạnh. Như thế cùng
với việc USD được bơm ra, số USD đang nằm tại các DN, ngân hàng thương
mại... cũng sẽ được tung ra.
Khi đó thị trường chắc chắn sẽ không có chuyện khan hiếm nữa. Tất
nhiên, nếu công bố là sẽ tung ra hai tỷ USD nhưng khi cung ra khoảng một
tỷ USD mà thị trường đã bình ổn thì có thể tạm ngưng, chưa bơm tiếp số
ngoại tệ còn lại. Ngân hàng nhà nước sẽ biết phải có nhiệm vụ điều tiết,
cân đối cung cầu trên thị trường, đảm bảo việc các DN không thiếu USD
để nhập nguyên liệu, hàng hóa.
Theo Lê Thanh
Pháp luật Tp.HCM
Chi tiết
|